Thuyết minh tuyến điểm 1: Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Khánh Hòa ( Phần 1 )

0
623

TỈNH ĐỒNG NAI

Đồng Nai là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Đây là tỉnh có dân số đông thứ nhì miền nam (sau Thành phố Hồ Chí Minh) có diện tích lớn thứ nhì ở miền đông (sau Tỉnh Bình Phước) và thứ ba ở miền nam (sau Tỉnh Bình Phước và Tỉnh Kiên Giang). Đồng Nai có thành phố Biên Hòa là thành phố trực thuộc tỉnh có dân số đông nhất cả nước. Dân số Đồng Nai hiện nay đang đứng thứ 5 cả nước.

Tỉnh lỵ của Đồng Nai hiện nay là thành phố Biên Hòa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 30 km, cách Hà Nội 1.684 km theo đường Quốc lộ 1A. Tỉnh được xem là một tỉnh cửa ngõ đi vào vùng kinh tế Đông Nam Bộ – vùng kinh tế phát triển và năng động nhất cả nước. Đồng thời, Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai. Đồng Nai là đơn vị có dân số đông thứ 5 cả nước. Dân cư tập trung phần lớn ở TP. Biên Hòa với hơn 1 triệu dân và 2 huyện Trảng Bom, Long Thành.

Nằm trên địa phận tỉnh Đồng Nai, sông Đồng Nai nhận thêm nước của một phụ lưu bên tả ngạn(sông La Ngà) rồi đổ ào ào qua thác Trị An trước khi bình lặng chảy trên vùng đất thấp bằng bằng ngày càng mở rộng của đồng bằng do chính nó bồi đắp nên. Trước khi chảy đến thành phố Biên Hòa, sông Đồng Nai còn có một phụ lưu bên hữu ngạn là Sông Bé. Tại nhà Bè, sông Đồng Nai nhận thêm nước của sông Sài Gòn trước khi chia ra nhiều phân lưu chảy qua vùng rừng Sác rồi đổ ra biển ở của Soài Rạp cùng với sông Vàm Cỏ.

Ngày 01/05/1985, công trình thủy điện quan trọng trên sông Đồng Nai được khởi công xây dựng ở Trị An. Đây là công trình hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam và Liên Xô cũ. Một hồ chứa lớn có dung tích đến 2,7 tỷ mét khối nước được hình thành. Bốn tổ máy của nhà máy thủy điện có tổng công suất 400MW đã vận hành từ đầu năm 1989, cung cấp một lượng điện năng quan trọng cho miền Nam.

Trị An là thác nước cuối cùng trên sông Đồng Nai trước khi chảy vào vùng đồng bằng. vào mùa nước cạn, trên một khoảng sông rộng, nổi lên hàng trăm hàng hàng tảng đá đen lô nhô như bầy trâu nước đang tắm giữa những thác nước nhỏ nối tiếp nhau. Mùa nước, thác đổ cuồn cuộn bọt trắng xóa trên một đoạn sông hàng trăm mét, tạo nên một phong cảnh hùng vĩ. Từ bao đời nay, sức mạnh của dòng sông chỉ làm tung những bọt nước trắng xóa không mang lại lợi ích thiết thực.

Thủy điện Trị An là công trình thủy điện thứ hai trong cả nước, chỉ sau công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà.

Các tỉnh miền Nam tham gia việc tiếp tế, miền Bắc gửi những cán bộ công nhân giỏi, cán bộ kỹ thuật nhiều kinh nghiệm. Phần đóng góp quan trọng nhất do tỉnh Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh gánh vác. Nhân dân 16 tỉnh, thành phố miền Nam đã đóng góp trên 51 tỷ đồng, Liên Xô cũ cho vay hơn 150 triệu rúp và cung cấp máy móc, thiết bị xây dựng công trình. Đập chính chắn ngang sông Đồng Nai được xây dựng phía thượng nguồn của thác Trị An, tạo nên một hồ nước rộng 232km2, chứa gần 3 tỷ mét khối nước. Nước từ hồ chính được đưa qua hồ phụ rồi chảy qua nhà máy thủy điện làm quay 4 tổ máy có công suất tổng cộng là 400MW. Sản lượng điện hàng năm có thể đạt 1,7 tỷ Kwh.

Sau 5 năm lao động cật lực của công nhân, cán bộ trên công trường xây dựng, tổ máy số 1 và số 2 của nhà máy đã hoạt động vào năm 1988. Đến tháng 09/1989, cả 4 tổ máy đã được vận hành sản xuất điện.

Hồ Trị An là một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, một địa điểm du lịch.

Đồng Nai là vùng đất con người cư trú rất sớm, những di chỉ khảo cổ ở hang Gòn, cầu Sắt (Xuân Lộc) có các công cụ đá của người tiền sử,ở Dốc Chùa, những khuôn đúc đồng cách đây trên 3.000 năm.

Vùng Bà Rịa của tỉnh Đồng Nai cũng là nơi người Việt vào khai phá đất hoang sớm nhất trong cả Nam Bộ, từ đầu thế kỷ 17. Năm 1679, một nhóm người Hoa đã đến cư trú cùng với người Việt tại vùng Biên Hòa lập nên một khu vực chợ quan trọng nhất Nam Bộ trong thế kỷ 18: Cù Lao Phố (Cù Lao nằm trên sông Đồng Nai thuộc thành phố Biên Hòa ngày nay). Sách sử ghi lại đây là một nơi phố chợ sầm uất: phố xá, mái ngói, tường vôi, lầu cao quán rộng dọc theo bờ sông suối năm dặm và phân ra ba phố: đường phố lớn lót đá trắng, đường phố ngang lót đá ong, đường phố nhỏ lót đá xanh. Thuyền buôn các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương, Đồ bàn (Java, Mã Lai)… đến buôn bán tấp nập.

Đến khoảng năm 1776-1777, trong cuộc chiến tranh giữa Tây Sơn với họ Nguyễn, Cù Lao phố bị tàn phá và suy sụp hẳn. Thương gia ở đây rời về vùng Sài Gòn và lập nên chợ Lớn ngày nay.

Cách thành phố Biên Hòa 3km về phía Đông Bắc là khu Thiên Chúa giáo Hố Nai, chiếm diện tích khoảng 2.100ha. Trước năm 1954, vùng này còn hoang sơ thuộc xã Bình Tước, quận Đức Tu. Năm 1954, hơn 40.000 giáo dân thuộc 25 họ đạo ở miền Bắc Việt Nam vào định cư theo quyết định của Ngô Đình Diệm ban hành tháng 8/1954. Ngày nay, Hố Nai gồm Hố Nai 1, Hố Nai 2, Hố Nai 3 và Hố Nai 4 thuộc huyện thống nhất, tỉnh Đồng Nai. Hố Nai có đến 29 nhà thờ được mang tên làng quê ở miền Bắc như: Kẻ Sặt, Nam Định, Xưa, vùng đất này có nhiều hố, trãng cỏ mọc xanh tươi và có nhiều nai ra ăn cỏ. Các thợ săn bí mật bao vây đẩy nai vào hố để bắt, từ đó có tên Hố Nai.

Trong sản xuất nông nghiệp, ngoài lúa ở vùng đất thấp, các loại đậu, khoai củ ở vùng đất cao, nhân dân Đồng nai còn trồng nhiều các loại cây trái, thuốc lá, cao su… Các loại đặc sản nổi tiếng ở Đòng Nai có mít tố nữ Bà Rịa, sứa Nghĩa An, chôm chôm Long Khánh, và đặc biệt là bưởi Biên Hòa: “Bười Biên Hòa vị ngọt mùi thơm”.

Vào mùa bưởi (Tháng 10,11,12) vào thăm một vùng chuyên trồng bưởi như ở cù lao Tân Triều trên sông Đồng Nai chẳng hạn, du khách sẽ choáng ngợp trước hàng vạn trái bưởi lủng lẳng trên cây. Có hàng chục giống bưởi được trồng ở vùng Biên Hòa, mỗi giống có một hương vị riêng. Hiện nay, các giống được trồng nhiều là bưởi đường núm, bưởi thanh, bưởi xiêm, bưởi bà giăng, bưởi ổi…

Trong hoạt động công nghiệp, tỉnh Đồng Nai có khu công nghiệp Biên Hòa, gọi là khu “Kỹ nghệ Biên Hòa” được thành lập năm 1963. Sau năm 1975, khu công nghiệp Biên Hòa đã được mở rộng thêm với khoảng 65 nhà máy; chiếm diện tích 330ha; sản xuất thép, hóa chất, thức ăn gia súc, điện tử, máy nông ngư cơ… thu hút một lực lượng lao động đáng kể, khoảng trên 20.000 người.

Đối diện với khu công nghiệp Biên Hòa (cũ) này, một khu công nghiệp mới được hình thành-khu công nghiệp Biên Hòa II- gồm một phần diện tích kho Long Bình xưa, là khu công nghiệp sạch, tập trung những ngành công nghiệp không gây ô nhiễm môi trường.

Khu công nghiệp Biên Hòa, là một trong những khu công nghiệp lớn nhất của cả nước với vốn đầu tư lên đến hàng tỷ đô la.

Hiện nay, một khu công nghiệp nữa đang hình thành. Tại thành Tuy Hạ (Long thành), nhà máy lọc dầu công suất 6 triệu tấn/năm đang được khẩn trương xây dựng. Cùng với nhà máy lọc dầu, nơi đây sẽ hình thành khu hóa dầu đầu tiên của nước ta.

Tỉnh Đồng Nai có một thành phố (thành phố Biên Hòa) và 8 huyện (Xuân Lộc, Thống Nhất, Tân Phú, Vĩnh Cửu, Châu Thành, Long Thành, Xuyên Mộc, Long Đất).

ĐỒNG NAI TRONG CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, vùng đất Biên Hòa đã nổi danh với chiến khu Đ (nằm một phần ở Đồng Nai và một phần ở tỉnh sông Bé), với những trận phục kích quân Pháp trên đường 20 (07/03/1948, tiêu diệt 60 xe và 150 quân địch) với địa danh Đất Đỏ (Bà Rịa) là quê hương của liệt sĩ Võ Thị Sáu (hy sinh ở Côn Đảo năm 1952).

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, Đồng Nai nổi danh với chiến thắng Bình Giã (tháng 12/1964). Đây là lần đầu tiên quân giải phóng mở đợt tấn công lớn và dài ngày vào quân chủ lực ngụy. Trong 6 ngày chiến đấu liên tục, quân giải phóng đã tiêu diệt gọn 2 tiểu đoàn cơ động và 1 chi đoàn bọc thép M.113, bắn rơi, bắn hỏng 37 máy bay của Mỹ ngụy. Chiến thắng này đã đánh dấu sự trưởng thành của quân giải phóng miến Nam.

Ở Biên Hòa còn có kho đạn Long Bình là kho đạn khổng lồ của quân đội Sài Gòn trước năm 1975. Nằm ở góc đông bắc ngã ba xa lộ Biên Hòa, quốc lộ 15, thuộc địa phận thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai. Trước năm 1964, đây còn là vùng đồi trọc hoang vu, đặc biệt khô cằn trong mùa nắng.

Trong cuộc chiến tranh vừa qua, đế quốc Mỹ đã chọn địa bàn này để xây dựng căn cứ-kho quân sự. căn cứ này được khởi công xây dựng vào năm 1964, rộng 6km2, dùng làm kho chứa các dụng cụ chiến tranh (thuốc nổ, bom, đạn,xe tăng, pháp…). Ngay từ khi xây dựng, căn cứ này đã có tên gọi “Kho Long Bình”, là trung tâm cung cấp vũ khí cho quân ngụy trên chiến trường.

Tháng 04/1965, sau khi kiểm tra tình hình ở miền Nam Việt Nam, phái đoàn quân sự Mỹ Mac Namara và Taylor khẩn báo về Hoa Thịnh Đốn: Quân đội Việt Nam cộng hòa không đủ sức đương đầu với Việt cộng. Tương quan lực lượng ở mức báo động. Quyền làm chủ đã về tay cộng sản. Nhà cầm quyền Mỹ họp bàn và quyết định tiến hành chiên lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam việt Nam, chọn miền Đông Nam Bộ làm chiến trường chủ yếu.

Quy mô chiến tranh mới đòi hỏi phải có hệ thống thiết bị chiến trường mới và tổ chức hậu cần cùng với cơ cấu chỉ huy quân sự thích hợp, “kho Long Bình” được quyết định xây lại vào năm 1966, được mở rộng gấp 4 lần so với trước (24km2). Từ đây căn cứ này còn có tên gọi “Tổng kho Long Bình”, kho này lấy hàng từ cảng Sài Gòn, cảng vũng Tàu, sân bay Biên Hòa… và trở thành trung tâm cung cấp vũ khí cho quân đội Mỹ-Ngụy và chư hầu trên một địa bàn rộng lớn, từ Đà Nẵng đến Minh hải.

Trong tổng kho Long Bình có 6 hầm ngầm đủ chứa 150.000 tấn bom đạn. Lực lượng thường trực ở tổng kho Long Bình có: 1 tổng chỉ huy, 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn thông tin, 1 chiến đoàn vận tải, 1 trung tâm huấn luyện và 1 trung đoàn đặc nhiệm bảo vệ… Ngoài những hàng rào riêng cho từng khu vực bên trong vành ngoài tổng kho được bao bọc 6 lớp hàng rào và 72 tháp canh. Tuy được xây dựng kiên cố và thường xuyên bố trí lực lượng biệt động quân giải phóng tập kích bất ngờ gay nhiều thiệt hại. Đặc biệt vào cuối tháng 4/1975, khu vực này đã diễn ra nhiều trận đánh 1uan trọng, các lực lượng võ trang cách mạng địa phương cùng bộ đội chủ lực quân đoàn 2 quân giải phóng , chọc thủng các chốt bảo vệ , tấn công và làm chủ tổng kho Long Bình, mở ra cửa quan trọng Đông nam Sài Gòn cho đội quân cách mạng cùng xe tăng, pháo binh… tiến thẳng vào “Dinh Độc Lập”.

Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trận đánh quan trọng đã diễn ra ở Xuân Lộc. Xuân Lộc là khu vực phòng ngự trọng Yếu của nguyh quyền để bảo vệ ngõ phía Đông thành phố Sài Gòn Ngày 09/04/ 1975, quân giải phóng tiến đánh Xuân Lộc. Đêm 20/04 lực lượng cuối cùng của địch mỹ bỏ chạy toán loạn. Chiến thắng Xuân Lộc tác động mạnh đến tình hình quân sự chính trị của Mỹ ngụy:Nguyễn Văn thiệu bỏ chức tổng thống chạy ra nước ngoài, Mỹ bắt đầu di tản ra hạm đội 7.

Cùng với chiến thắng Xuân Lộc, chiến thắng Nước trong, Long Thành đã mở cửa ngõ cho lực lượng giải phóng tiến vào Sài Gòn (30/04/1975).

Một vùng đất khác có truyền thống chiến đấu anh dũng là vùng Rừng Sác. Trước kia vùng này thuộc tỉnh Biên Hòa, từ năm 1978 thuộc về thành phố Hồ chí Minh. Rừng Sác (Sác là tên dùng để chỉ các loại cây mọc ở vùng nước mặn như đước, sú, vẹt…) nằm trên vùng đất thấp, ngập nước như thủy triều lên ở trước cửa sông Đồng Nai. Trước đây, Rừng Sác rộng đến 40.000 ha, cung cấp dồi dào cho nhân dân vùng lân cận nhất là thành phố Hồ Chí minh các loại gỗ dùng để làm chất đốt và trong việc xây cất. Rừng Sác còn nhiều loại thú rừng: nai, mển, chồn, heo rừng, trăn, rắn… đến các loại thú dữ như: cọp, beo… Đặc sản của sông nước Rừng Sác là tôm, cua, sò, cá, cá sấu…Một câu ca doa ghi lại nỗi sợ của người mới đặt chân đến vùng đất này:

“Từ nay tôi tởn đến già,
Dưới sông lền sấu, trên là hùm beo”.

Rừng Sác nằm trên con đường thủy quan trọng nối cảng Sài Gòn ra biển nên từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, cả hai đều tìm cách kiểm soát khống chế khu vực này. Trong những năm tháng chiến, quân dân huyện Cần Giờ, bộ đội Rừng Sác cùng các chiến sĩ đặc công nước, với cách đánh sáng tạo, đã đánh thắng quân địch nhiều trận lớn như: Dùng thủy lôi đánh chìm tàu Victoria của Mỹ chở xe tăng và phi cơ phản lực trên sông Lòng Tàu ngày 23/08/1966; Dùng pháo bắn vào lễ đài của Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu, tại nhà thờ Đức Bà ngày 01/11/1966; Đánh chìm nhiều tàu mỹ ngụy tại cảng nhà bè… Một trận đánh rất oanh liệt như đánh kho bom thành Tuy Hạ, ngày 13/11/1972, phá hủy 200.000 trái bom; đốt 14 triệu lít xăng tại kho xăng Nhà Bè ngày 03/12/1977.

Ven quốc lộ 20 trên đường đi Đà Lạt, cách ngã ba Dầu Giây chừng 10km là một cánh rừng trồng cây giá tỵ (tektora grandis).

Cây giá tỵ có lá dày, to, nhám và rộng (40-60cm). Giống cây này có vỏ trắng, gốc có nhiều cạnh khía, hoa có chùm màu trắng… thường gặp ở nước Lào, Miến Điện và miền Bắc Thái Lan.

Cây giá tỵ có nhiều công dụng: lá, hoa, hạt đều có thể dùng làm thuốc hạ lợi và lợi tiểu; gỗ không vân, dẻo, ít co dãn (gọi là teck toquinon) rất thích hợp vào việc đóng thuyền và làm báng súng, làm bơi chèo, ván lướt…

Rừng cây giá tỵ này được trồng dưới thời Ngô Đình Diệm. Trần Lệ Xuân, vợ cố vấn Ngô Đình Nhu, là em dâu của tổng thống Ngô Đình Diệm đương thời đã đứng ra tài trợ cho việc trồng cánh rừng này, ba mươi năm qua, rừng vẫn còn đó, tuy có bị phá hoại ít nhiều. Ngày nay, cơ quan lâm nghiệp địa phương đang có kế hoạch tu bổ và khai thác nó.

Ngã ba Dầu Giây. Đi thẳng rẽ tiếp tục quốc lộ 1 để đi ra các tỉnh miền trung và miền bắc. rẽ trái theo quốc lộ 20 đến Đà lạt. Xưa, vùng này có nhiều cây cọ dầu dùng chế sơn gỗ, nên gọi là dầu giây. Người pháp đã cho đốt rừng cọ dầu vì trong rừng có nhiều loại tre già, nên cây cọ dầu đã mai một. Nhưng tên Dầu giây vẫn còn lưu lại cho đến nay.

Vườn cao su. Cây cao su có nguồn gốc từ rừng Amazon-Châu Mỹ, được cư dân ở đầy lấy nhựa trét vào áo lạnh và làm đồ chơi trẻ em. Sau, phát hiện được nhiều công dụng từ mủ cao su, cư dân bắt đầu trồng để lấy mủ và gọi là cây ka-ao-choc (nước mắt của cây), sau đó người Pháp đọc trại thành Caoutchou (cao su). Bác sĩ A.Yersin là người đầu tiên mang cây cao su vào trồng ở Việt Nam tại Suối Dầu-Nha Trang. Ở Sài Gòn, cây cao su được trồng đầu tiên ở công viên Gia Định. Sau do điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp, cây cao su được nhân giống và trồng tập trung ở nhiều nơi. cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đã mở nhiều đồn điền cao su ở Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, mộ phu từ các tỉnh phía Bắc vào. Nổi tiếng nhất là đồn điền cao su Phú Riềng, bóc lột tàn tệ sức lao động của công nhân: trả lương ít ỏi, đối xử khắc nghiệt, ở một môi trường lao động độc hại. gần như mỗi gốc cao su bón một mạng người.

Cao su đi dễ khó về

Khi đi trai tráng, khi về bủng beo.

Diện tích cao su ở Đồng Nai hiện nay là 57.000ha, trong đó 36.000ha đang cho mủ với 27.000 công nhân. Công nhân đi lấy mủ từ 4 giờ 30,vì thời gian này cây cho mủ nhiều nhất. Sáng sớm, cây cao su phải vận chuyển nhựa từ rễ lên thân cây để lan ra đều các cành, tán, nhánh, lá chuẩn bị cho quá trình quang hợp khi nhận ánh mặt trời. Thợ lấy mủ cao su 80% là nữ, vì bàn tay của họ mềm mại, nhẹ nhàng cạo phớt qua phần vỏ mềm, không chạm vào thân cây, nên mủ lấy được sẽ nhiều và lấy được nhiều lần. Sức lao động của công nhân được tính dựa theo số thùng mủ lấy được trong ngày. Mủ tươi được hóa với chất NH3 để chống đông cứng và được phân loại thành: CSVSL4, CSVSL20, CSVSL40… chỉ số càng cao thì độ đàn hồi càng giảm. Sau đó, mủ cao su được đóng thùng theo tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu.

Đăng ký nhận tài liệu qua facebook tại đây: https://goo.gl/APqqp9  rồi ấn “Bắt đầu “

Mọi thắc mắc về thủ tục xin cấp thẻ hướng dẫn viên gọi cho admin 0911 462 369 (Ms Ly Ly)

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.